So với "người em" Type 054A Giang Khải II thì tàu hộ vệ tên lửa Type 054 Giang Khải I tỏ ra thua kém về mọi mặt.
Type 054 (Jiangkai I - Giang Khải I) là lớp tàu hộ vệ tên lửa đa năng được đóng cho Hải quân Trung Quốc nhằm thay thế cho vai trò của "người tiền nhiệm" Type 053H3 đã lạc hậu.
Chỉ có 2 chiếc Type 054 mang số hiệu 525 Ma'anshan và 526 Wenzhou được hoàn thành trước khi Trung Quốc sản xuất số lượng lớn phiên bản nâng cấp Type 054A hiện đại hơn.
Tàu hộ vệ tên lửa Ma'anshan số hiệu 525 thuộc Type 054
Thiết kế của Type 054 dựa trên nguyên mẫu hình học khinh hạm La Fayette của Pháp, được tối ưu hóa cho việc tán xạ sóng radar nhằm nâng cao khả năng tàng hình.
Tàu còn được lắp đặt nhiều thiết bị điện tử có nguồn gốc từ Pháp mà Trung Quốc nhập khẩu trong thập niên 1980 sau đó sản xuất trong nước theo giấy phép. Những hệ thống này được cho là tương đương với La Fayette đời đầu.
Jiangkai I có lượng giãn nước 3.900 tấn; dài 134 m; rộng 16 m; mớn nước 5 m. Động cơ CODAD (diesel-diesel) gồm 4 máy SEMT Pielstick 16 PA6 STC công suất 5.700 kW mỗi chiếc cho tốc độ tối đa 27 hải lý/h (50 km/h), tầm hoạt động 8.025 hải lý (14.900 km).
Tàu hộ vệ tên lửa Yi Yang thuộc Type 054A
So với bản nâng cấp Type 054A, dễ dàng nhận thấy trang bị thiết yếu của Type 054 thua kém rất nhiều.
Radar cảnh giới đường không của Type 054 là loại Type 363S 2D (trên đỉnh tháp radar) chỉ phát hiện được mục tiêu từ khoảng cách tối đa 112 km, hơn nữa độ chính xác cũng không hoàn toàn đáng tin cậy.
Đặt cạnh đài nhìn vòng mảng pha 3D Fregat M2EM trên Type 054A (tầm trinh sát 300 km) hay Pozitiv-ME của Gepard 3.9 (tầm quét 150 km, theo dõi 40 mục tiêu và bám bắt 3 mục tiêu cùng lúc) thì rõ ràng năng lực của Type 363S không thể sánh bằng.
Radar tìm kiếm bề mặt của Type 054 là loại MR-36A dùng để dẫn đường cho tên lửa đối hạm, tầm hoạt động 150 km (so với 250 km ở chế độ chủ động và 450 km ở chế độ thụ động của Mineral-ME trên Gepard 3.9).
Như vậy, mặc dù mang YJ-83 có tầm bắn tới 180 km nhưng nếu tác chiến độc lập thì Type 054 không thể tận dụng hết tính năng của loại tên lửa chống hạm này.
Thêm vào đó, Gepard 3.9 với thiết bị điện tử cực nhạy kết hợp diện tích phản xạ radar thấp do kích thước nhỏ hơn cũng khiến cho ưu thế về tầm bắn của YJ-83 trên Type 054 bị xóa nhòa.
Tàu hộ vệ tên lửa Gepard 3.9 của Việt Nam trong quá trình chạy thử nghiệm tại Nga
Điểm dễ nhận biết nhất của Type 054 đó là thay vì 12 ống phóng thẳng đứng HHQ-16 như trên Type 054A thì nó lại mang 8 đạn phòng không HHQ-7 tầm bắn tối đa 15 km.
So với 9M311 Sosna-R của hệ thống Palma trên Gepard 3.9, mặc dù tầm bắn ngắn cùng đầu đạn nhỏ hơn nhưng tốc độ cao (1.100 m/s so với 750 m/s) cũng như độ chính xác khi đánh chặn mục tiêu bay thấp (nhờ bám chùm laser) của 9M311 lại vượt trội hoàn toàn.
Tính năng này của 9M311 đặc biệt quan trọng, do nó có khả năng đánh chặn tên lửa đối hạm bay bám biển, điều mà HHQ-7 chưa bao giờ được đánh giá cao.
Giang Khải I chỉ nổi trội ở tác chiến tầm gần do pháo hạm Type 210 cỡ 100 mm có uy lực cũng như tầm bắn xa hơn AK-176M trên Gepard 3.9. Bên cạnh đó nó còn có năng lực tác chiến chống ngầm, điều mà phải đến cặp Gepard tiếp theo mới được bổ sung.
Nhưng nếu xảy ra kịch bản đối đầu 1:1, có thể khẳng định rằng phần thắng vẫn sẽ nghiêng nhiều hơn về phía Gepard 3.9 của Việt Nam.
(Kiến Thức) - China Times (có trụ sở tại Đài Loan) đưa tin, Hải quân Trung Quốc quyết định triển khai khinh hạm Liễu Châu tới Hạm đội Nam Hải.
Khinh hạm tàng hình Type 054A Giang Khải II.
Khinh hạm Liễu Châu thuộc lớp Giang Khải II Type 054A là một trong những chiến hạm hiện đại nhất của Hải quân Trung Quốc. Với quyết định trên đã tổng số tàu Type 054A biên chế trong Hạm đội Nam Hải lên 6 chiếc.
Thiết kế tàng hình
Giang Khải II Type 054A do nhà máy đóng tàu Hudong-Zhonghua (Thượng Hải) và nhà máy đóng tàu Hoàng Phố (Quảng Châu) phối hợp sản xuất.
Type 054A có lượng giãn nước 4.453 tấn (toàn tải), dài 134,1m. Để vận hành con tàu thì cần tới thủy thủ đoàn 165 người.
Kiểu dáng tàu Type 054A được thiết kế để tối ưu cho khả năng tàng hình trên mặt biển. Hai bên mạn tàu được thiết kế dốc nghiêng khoảng 10 độ nhằm giảm mặt cắt radar theo chiều ngang, thân tàu được sơn một lớp sơn của khả năng hấp thụ sóng điện tử.
Hệ thống điện tử “pha trộn”
Hệ thống điện tử của Type 054A được xây dựng trên cơ sở hệ thống điện tử tàu khu trục Project 956 Sovremenny của Nga. Hầu hết các loại radar trang bị trên tàu đều do Nga sản xuất gồm:
- Radar trinh sát đường không Fregat-MAE-5 cho phép theo dõi cùng lúc 40 mục tiêu ở tầm xa nhất 120km (với máy bay) và 50km (với tên lửa hành trình).
- 4 radar MR-50 cung cấp lệnh dẫn đường cho hệ thống tên lửa phòng không trên tàu chiến. Mỗi radar có thể cung cấp 2 kênh dẫn đường cho 2 tên lửa cùng lúc tấn công mục tiêu.
- Radar Mineral-ME cung cấp thông tin mục tiêu điều khiển tên lửa hành trình chống tàu C-803.
Ngoài ra, tàu cũng được trang bị một số hệ thống radar do Trung Quốc chế tạo gồm 3 đài radar Type 347G điều khiển hỏa lực tổ hợp pháo phòng không Type 730 và pháo hạm 76mm; hệ thống quản lý chiến đấu ZKJ-4B/6, hệ thống liên kết dữ liệu HN-900.
Tình trạng “pha trộn” này có thể chỉ tồn tại trên một vài chiếc Type 054A đóng đầu tiên, kể từ những chiếc sau đó mà cụ thể là tàu Liễu Châu nó đã được “Trung hóa toàn diện” thay thế hoàn toàn bằng các hệ thống điện tử do Trung Quốc sản xuất “sao chép công nghệ” Nga.
Tên lửa hành trình chống tàu C-803.
Mạnh trên 3 mặt
Hỏa lực của khinh hạm Giang Khải II Type 054A có khả năng tiêu diệt mọi mục tiêu trên mặt biển, trên không và dưới mặt nước.
Trong đó, hệ thống vũ khí dùng để tấn công mục tiêu trên mặt biển gồm tổ hợp pháo hạm tự động H/PJ26 cỡ nòng 76mm. Tháp pháo được tối ưu kiểu dáng tăng khả năng tàng hình cho tàu, pháo có tốc độ bắn nhanh không những cho phép tấn công mục tiêu cỡ nhỏ trên biển (tầm 15km) mà còn bắn hạ tên lửa hành trình chống tàu nếu cần.
Vũ khí diệt hạm chủ lực là tổ hợp tên lửa hành trình chống tàu siêu thanh C-803 (8 quả) với cụm 4 ống phóng bố trí chéo nhau giữa thân tàu. Đạn tên lửa C-803 dài 6-7m, trọng lượng phóng 850-1.200kg, đường kính thân 0,63m, lắp đầu đạn xuyên giáp nặng 165kg.
Tên lửa C-803 lắp động cơ khởi tốc nhiên liệu rắn (đưa tên lửa rời bệ phóng) và một động cơ tuốc bin phản lực nhiên liệu lỏng cho phép quả đạn đạt vận tốc tối đa gấp 2 lần vận tốc âm thanh, trần bay 10-50m ở giai đoạn bay tiếp cận mục tiêu và khi cách mục tiêu 20km thì hạ xuống 5m.
Hỏa lực phòng không của tàu cho đến nay vẫn nằm trong vòng tranh cãi, có nguồn tin cho rằng nó trang bị hệ thống tên lửa tầm trung 9M317 (NATO định danh là SA-N-7 Shtil) có tầm bắn 38km. Nhưng cũng có nguồn tin cho rằng Type 054A trang bị hệ thống HQ-16 do Trung Quốc sản xuất có tầm bắn tới 50km.
Hệ thống ống phóng thẳng đứng chứa đạn tên lửa đối không đặt ngay sau tháp pháo.
Ngoài hệ thống tên lửa, Type 054A còn trang bị 4 tổ hợp pháo phòng không tự động Type 730 tiêu diệt mục tiêu trên không ở tầm cực gần. Tổ hợp Type 730 trang bị pháo 7 nòng cỡ 30mm cho phép đạt tốc độ bắn 4.600-5.800 phát/phút, tầm bắn 3.000m.
Để tiêu diệt các mục tiêu dưới mặt nước, Type 054A trang bị 2 cụm máy phóng rocket săn ngầm Type 87 cỡ 240mm (tầm bắn 1.200m) và 2 cụm máy phóng ngư lôi cỡ 324mm Yu-7 (tầm bắn hơn 7km, xuyên sâu xuống mặt nước 400m). Nhìn chung, vũ khí chống tàu ngầm của Type 054A ở mức độ hạn chế, thật may nó còn có sự hỗ trợ của trực thăng săn ngầm Z-9C đậu ở đuôi tàu.
Hiện nay, Hải quân Trung Quốc đã đã đưa vào phục vụ 14 Type 054A, trong đó Liễu Châu là một trong 2 tàu mới hoàn thiện và được điều động tới Hạm đội Nam Hải.
Hoàng Lê (tổng hợp)_Cập nhật lúc: 10:50 04/01/2013
(Kiến Thức) - Máy bay vận tải chiến lược đầu tiên của Trung Quốc Y-20 vẫn còn quá nhiều điểm yếu kém so với tiêu chuẩn hiện đại.
Y-20 có thể mang được những xe tăng hạng nặng như Type 99 của Trung Quốc.
Sự phát triển của máy bay vận tải hạng nặng Y-20 sẽ mang lại nhiều lợi ích cho ngành công nghiệp hàng không dân sự và quân sự nếu như Trung Quốc có thể khắc phục được các vấn đề về động cơ nội địa “kém chất lượng” mà Trung Quốc tự sản xuất.
Trước đó, phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Trung Quốc Yang Yujun hồi tuần trước rằng, nước này đang phát triển máy bay vận tải quân sự Y-20 như một phần trong kế hoạch hiện đại hóa quân đội và phục vụ cho các nhiệm vụ cứu trợ nhân đạo, khắc phục thảm họa thiên tai.
Ngày 24/12/2012, một số hình ảnh được cho là nguyên mẫu máy bay vận tải quân sự hạng nặng Y-20 đầu tiên được sản xuất ở Trung Quốc đã xuất hiện trên các trang mạng quân sự. Máy bay Y-20 mang dáng dấp khá giống loại máy bay vận tải C-17 do công ty Boeing phát triển cho Không quân Mỹ. Tuy nhiên, có vẻ như kích cỡ của Y-20 là lớn hơn máy bay C-17 và nhỏ hơn loại vận tải cơ cỡ lớn A 400M của Airbus (châu Âu).
Y-20 ngắn và “mập” hơn khi so sánh với Il-76 với khoang vận tải cao hơn và rộng hơn để có thể mang được những xe tăng hiện đại và nhiều loại vũ khí hạng nặng khác. Như vậy, kích thước của Y-20 đủ rộng để có thể chứa được những phương tiện quân sự và vũ khí lớn nhất của Quân đội Trung Quốc, bao gồm cả loại xe tăng Type 99, có trọng lượng nặng tới 55 tấn.
Một lợi thế khác của nó là sử dụng đôi cánh rộng và dài, do đó tăng được tỷ lệ lực đẩy/ lực nâng và do đó tăng tầm hoạt động và cải thiện hiệu suất của nó.
Hình ảnh đầu tiên của máy bay vận tải Y-20 khi đang di chuyển ở trong sân bay một nhà máy..
Không ít điểm yếu
Điểm yếu của Y-20 đó là sử dụng động cơ tuabin tương đối nhỏ. Trước đây, đã có những báo cáo rằng, máy bay sẽ sử dụng các động cơ của Nga sản xuất, nhưng hiện nay loại động cơ Turbofan-18 được Trung Quốc sản xuất “nhái” từ loại D-30 của Nga (động cơ thế hệ đầu tiên) với động cơ tuabin lớn, có liên quan tới động cơ nhỏ ở sự ổn định của máy bay.
Khả năng nghiên cứu và phát triển động cơ cỡ lớn vẫn là điểm yếu kém nhất trong ngành công nghiệp hàng không Trung Quốc. Họ đang phát triển động cơ Turbofan-20 có kích cỡ lớn hơn để lắp đặt cho máy bay Y-20, do vậy, hiện nay Y-20 phải sử dụng động cơ được “bất đắc dĩ”, không có được những đặc điểm tương xứng với máy bay. Trong tương lai, Y-20 sẽ sử dụng động cơ Turbofan-20 nội địa.
Bù lại cho điểm yếu động cơ, Y-20 được sử dụng hệ thống điện tử hàng không tiên tiến. Giống như ở máy bay cảnh báo sớm trên không KJ-200, Y-20 được sử dụng một hệ thống tích hợp, kết hợp radar khí tượng, truyền thông, định vị và hoa tiêu tự động trong cùng một hệ thống.
Phạm vi hoạt động rộng lớn của Y-20 sẽ tăng cường khả năng không vận chiến lược cho Quân đội Trung Quốc. Với 100 chiếc Y-20 trong tương lai, Trung Quốc có thể nhanh chóng vận chuyển các lực lượng của họ tới châu Âu và châu Phi. Tuy nhiên, theo các chuyên gia quân sự, Trung Quốc sẽ cần tới 300 chiếc Y-20 mới có thể nâng tầm, sánh ngang với khả năng vận tải chiến lược của Mỹ.
Theo đánh giá của các chuyên gia quân sự khi so sánh Y-20 với máy bay vận tải C-17A của Mỹ, Y-20 còn thua xa bởi thiết kế khí động học của nó tương đối bảo thủ, hệ thống cần nâng của nó vẫn rất lạc hậu. Y-20 không sử dụng công nghệ tiên tiến theo kiểu cánh quạt hình bông hoa ở cánh. Y-20 còn thua xa cả C-17A và Il-76 về độ tinh cậy, cường độ bảo dưỡng ở tỷ lệ cao.
Hiệu suất động cơ của Y-20 là một vấn đề lớn. Trung Quốc vẫn còn một chặng đường dài để đi đến tự sản xuất động cơ có hiệu suất so sánh được với loại PW2040 trên máy bay C-17. Hiệu suất toàn diện của Y-20 chỉ bằng 60% của C-17A.
Các chuyên gia cũng nhắc lại rằng, C-17 là một máy bay vận tải được Mỹ sản xuất từ những năm 1990, nhưng Trung Quốc vẫn không thể sử dụng một số công nghệ mà họ thu được của Mỹ sau này.
Bạch Dương_Cập nhật lúc: 14:24 05/01/2013 http://kienthuc.net.vn/quan-su/phan-tich-yeu-huyet-may-bay-van-tai-y-20-khung-nhat-tq-180343.html
(Kiến Thức) - Trung Quốc bắt đầu thử nghiệm loại máy bay tuần tra săn ngầm Y-8FQ Cub với thiết kế đuôi kỳ dị chưa từng thấy.
Máy bay tuần tra hải quân Y-8FQ của Trung Quốc với chiếc đuôi "kỳ dị".
Không quân Hải quân Trung Quốc vừa tiến hành thực hiện chuyến bay thử nghiệm đầu tiên của loại máy bay tuần tra hải quân tương lai Y-8FQ Cub, hay còn được gọi là GX-6 High New 6.
Theo tạp chí Navy Recognition, những hình ảnh đầu tiên về biến thể máy bay tuần tra chống ngầm Y-8, được gọi là Y-8FQ Cub (Sư tử biển) từng được tiết lộ trong tháng 11/2011. Tuy nhiên, hình ảnh mới xuất hiện của "sát thủ tàu ngầm" Y-8FQ của Trung Quốc cho thấy máy bay này đã thực hiện chuyến bay đầu tiên.
Y-8FQ được chế tạo dựa trên cơ sở khung thân của máy bay vận tải Y-8 do công ty máy bay Thiểm Tây của Trung Quốc phát triển. Máy bay được trang bị 4 động cơ cánh quạt WJ-6C với 6 lá cánh.
Phần đuôi máy bay đã được cải tiến để hoạt động tốt hơn khi bay ở độ cao và tốc độ thấp theo yêu cầu nhiệm vụ của một máy bay tuần tra hải quân.
Tuy nhiên, đuôi của Y-8FQ sử dụng một thiết bị phát hiện từ trường (MAD) "kỳ dị" để "săn lùng" tàu ngầm, đây có lẽ là đặc điểm đáng chú ý nhất của Y-8FQ.
Từ hình ảnh mới thử nghiệm của Y-8FQ cho thấy, có lẽ máy bay đã được lắp đặt một vòm anten ở dưới mũi thuộc kiểu radar giám sát hải quân. Ngoài ra, máy bay đã được lắp một tháp quang học và một vài anten ở cả phía trên sống lưng và dưới bụng.
Vũ khí của Y-8FQ được đặt ở trong khoang có cửa mở (mang tên lửa, bom, ngư lôi), phía trước cơ cấu hạ cánh 4 bánh và có cửa sổ ở phía gần đuôi để có thể quan sát rõ hơn.
Navy Recognition kết luận rằng, máy bay tuần tra hải quân Y-8FQ Cub/High New 6 "hội tụ" đủ khả năng có thể so sánh với máy bay chống ngầm như P-3 Orion, Atlantique II hay Il-38.
Điểm yếu về hiệu suất làm việc của động cơ sẽ khiến tàu hộ vệ Type 054A phải "miễn cưỡng" đảm đương vai trò chống ngầm cho biên đội tàu sân bay Trung Quốc.
Hạn chế của động cơ 16PA6V-280STC trang bị cho Type 054A
Những năm gần đây Hải quân Trung Quốc không ngừng biên chế thêm tàu hộ vệ tên lửa, ngoài các chiến hạm Type 056 được đưa vào trang bị, còn số lượng lớn tàu hộ vệ Type 054A cũng được đóng mới.
Hiện số lượng tàu Type 054A được biên chế và đang trong quá trình đóng mới đã đạt 24 tàu, nếu toàn bộ những tàu chiến này đưa vào sử dụng, đồng nghĩa với việc lực lượng tàu hộ vệ tên lửa của Trung Quốc sẽ sang trang mới.
Type 054A có lượng giãn nước 4.053 tấn, đã đạt tiêu chuẩn của tàu hộ vệ viễn dương, có thể bảo vệ cho nhóm tác chiến tàu sân bay. Nhưng cũng cần phải thấy rằng lớp chiến hạm này có một điểm yếu rất nghiêm trọng đó là vấn đề lực đẩy của động cơ.
Tàu hộ vệ Type 054A sử dụng động cơ diesel 16PA6V-280STC nhập khẩu từ công ty Pielstick Pháp. Giai đoạn 1996 - 2000, Trung Quốc đã nghiên cứu ra hệ thống tăng áp và thiết bị kiểm soát STC cho động cơ này.
Vận tốc quay của động cơ được nâng lên mức 350 - 850 vòng/phút, mức tiêu thụ nhiên liệu thấp hơn 14%, nhiệt độ cửa xả giảm 30%, khói giảm 55%. Công suất định mức của động cơ 16PA6V-280STC nâng cao 10%, tương đương động cơ diesel cùng loại của nước ngoài.
Tàu hộ vệ Type 054A có tổng cộng 4 động cơ 16PA6V-280STC, công suất của mỗi động cơ là 5.700 KW. Động cơ này mặc dù có các ưu điểm như phạm vi công suất rộng, kết cấu gọn, nhưng đồng thời cũng tồn tại rất nhiều lỗ hổng.
Thứ nhất là tỷ lệ điều tiết tốc độ thấp, trong trường hợp bình thường tỷ lệ này của động cơ diesel là 3:1, vì vậy khả năng tăng tốc và giảm tốc xuất hiện vấn đề rất lớn.
Thứ hai là có sự cộng hưởng thân máy, sự dao động hệ thống trục xoay và tiếng ồn. Thứ 3 là điều kiện làm việc của một số bộ phận rất kém, khả năng chịu nhiệt độ và áp suất cao không tốt.
Khoảng cách lớn khi so sánh với Hải quân Mỹ
Trong khi đó, biên đội tàu sân bay Mỹ thường sử dụng biện pháp phối hợp giữa tàu tuần dương Ticonderoga và tàu khu trục Arleigh Burke.
Arleigh Burke mặc dù lớn hơn khá nhiều so với tàu khu trục của các nước khác nhưng khả năng hành trình liên tục chỉ có 4.400 hải lý, tương đương với tàu hộ vệ của nhiều nước. Nhưng khu trục hạm Arleigh Burke có ưu thế tốc độ vượt trội, vận tốc tối đa của nó là 31 hải lý/h.
Từ khi tàu ngầm đưa vào thực chiến đến nay, tốc độ và tính năng cơ động của tàu chống ngầm phải vượt tàu ngầm trở thành một tiền đề lớn, tất nhiên Arleigh Burke là lựa chọn rất tốt.
Rất nhiều cư dân mạng cho rằng, vai trò chủ yếu của Arleigh Burke không phải là tàu phòng không và chống tên lửa, điều đáng lưu ý là tàu Arleigh Burke cũng có thể kéo sonar, có khả năng chống ngầm, thậm chí còn rất mạnh.
Hiện nay lực lượng tàu chống ngầm phía trước của biên đội tàu sân bay Mỹ đều do tàu chiến đấu ven biển lớp Freedom và Independencecó tốc độ rất cao đảm nhận, Independence đạt vận tốc 44 hải lý/h, còn tốc độ tối đa của Freedom là 47 hải lý/giờ.
Hai lớp tàu này có tốc độ rất cao, vì vậy có thể tiến đến khu vực biển có tàu ngầm nguy hiểm rất nhanh và nhanh chóng giải quyết đối phương. Trái lại, tốc độ tối đa của tàu hộ vệ Type 054A thấp hơn so với 3 tàu trên.
Tàu chiến đấu ven bờ USS Freedom (LCS-1)
Như đã đề cập trước đó, do Type 054A sử dụng động cơ diesel, khả năng tăng tốc và giảm tốc không tốt. Sau khi bị tàu ngầm ngắm, nó thường rất khó thoát.
Mặt khác, để có thể tóm được tàu ngầm thường đòi hỏi tàu chống ngầm có tính năng chống ồn tốt. Nhưng động cơ diesel không thể tránh những vấn đề như sự cộng hưởng và tiếng ồn lớn, điều này làm cho tàu hộ vệ Type 054A không thể săn tàu ngầm.
Hơn nữa, với những nhược điểm như điều kiện làm việc của một số bộ phận của động cơ diesel kém, khả năng chịu nhiệt độ và áp lực cao thấp, làm cho độ an toàn trong hành trình của Type 054A không được ổn định.
Trong thời chiến, vấn đề lực đẩy là sự sống còn của tàu chiến, đối với trường hợp tàu hộ vệ Type 054A, nếu khi tác chiến, lực đẩy xuất hiện sự cố sẽ khiến tàu bị tiêu diệt.
Trên thực tế, tàu hộ vệ La Fayette của Pháp cũng sử dụng động cơ diesel, nhưng trường hợp này không đủ để giải thích rõ vấn đề.
Vì so với tàu Trung Quốc, Pháp có thể đảm nhận tiếp viện nhỏ cho Mỹ, đi theo nhóm tác chiến tàu sân bay, mà vấn đề chống ngầm đã có Mỹ đảm nhận. Ngược lại, Trung Quốc không có lợi thế này.
Ngoài ra, trên các phương tiện truyền thông còn có ý kiến cho rằng tốc độ tối đa của Type 054A sử dụng động cơ diesel là quá thấp, không thể đuổi kịp tàu sân bay, điều này hiện nay vẫn xuất hiện những tranh cãi.
Tác chiến chống ngầm hiện đại chủ yếu là do trực thăng săn ngầm và tàu chống ngầm phối hợp tiến hành, nhưng tính năng của thân tàu cũng không thể bỏ qua.
Vì vậy, nếu để Type 054A trở thành tàu hộ vệ chống ngầm của biên đội tàu sân bay Trung Quốc, sẽ có một số sự “miễn cưỡng” đối với lớp chiến hạm này.
Tóm lại cuối cùng vẫn chỉ một vấn đề, đó là vấn đề của động cơ, nếu không giải quyết được điều này, chắc chắn sẽ hạn chế rất nhiều việc phát triển hải quân viễn dương của Trung Quốc.
Hải quân là lực lượng được Trung Quốc đầu tư mạnh nhất trong thời gian qua, nhằm âm mưu thực hiện những yêu sách phi lý về chủ quyền trên biển.
Dưới đây là 5 lớp tàu chiến mặt nước của Hải quân Trung Quốc mà các quốc gia trong khu vực cần phải đặc biệt lưu tâm.
Tàu tên lửa tấn công nhanh Type 022
Type 022 Houbei (Hồ Bắc) là lớp tàu tên lửa tấn công nhanh tiên tiến và có số lượng đông đảo nhất của Hải quân Trung Quốc. Chiếc đầu tiên được hạ thủy vào tháng 4/2004 tại nhà máy đóng tàu Hudong - Zhonghua, Thượng Hải.
Việc áp dụng công nghệ tàu 2 thân (cataraman) trên Type 022 có một số ưu điểm so với tàu một thân truyền thống (mono hull) như cung cấp sự ổn định cao và độ nghiêng thấp, cho phép chạy với tốc độ rất cao và làm tăng khả năng tàng hình.
Vũ khí trang bị của Type 022 gồm 8 tên lửa đối hạm YJ-83 (có thể thay thế bằng tên lửa hành trình tấn công mặt đất Hongniao-2), tên lửa vác vai FLS-1 và 1 pháo phòng không cao tốc 30 mm sao chép AK-630 của Nga.
Mặc dù được vũ trang khá mạnh nhưng Type 022 bị cho là chỉ giữ vai trò bệ phóng di động, để có thể bắn tên lửa thì cần có sự chỉ thị mục tiêu từ máy bay hoặc tàu chiến khác.
Type 022 có lượng giãn nước đầy tải 220 tấn; dài 42,6 m; rộng 12,2 m, mớn nước 1,5 m. Tàu được trang bị 2 động cơ diesel 6.865 mã lực (5.119 kW) cùng 4 động cơ phản lực nước MARI cho tốc độ tối đa 36 hải lý/h; thủy thủ đoàn 12 người.
Khu trục hạm Sovremenny (Dự án 956/ 956EM)
Khu trục hạm lớp Sovremenny (Dự án 956) được Liên Xô chế tạo vào giữa thâp niên 1980, mục đích để chống lại cụm tác chiến tàu sân bay của Hải quân Mỹ.
Năm 1996, Trung Quốc ký hợp đồng trị giá 800 triệu USD mua lại 2 chiếc Sovremenny đang đóng dở, chúng được chuyển giao lần lượt trong giai đoạn 1999 - 2000 và mang tên Hangzhou (136) và Fuzhou (137).
Năm 2002, Trung Quốc tiếp tục mua 2 chiếc phiên bản hiện đại hóa (Dự án 956EM) gồm Taizhou (138) và Ninhbo (139) với tổng trị giá 1,4 tỷ USD, 2 tàu lần lượt được chuyển giao trong năm 2005 - 2006.
Sovremenny mang đậm thiết kế thời Chiến tranh lạnh, không chú trọng đến khả năng tàng hình. Tuy nhiên vũ khí của tàu lại cực mạnh với 8 tên lửa chống hạm siêu âm 3M80 Moskit có tầm bắn 120 km (Dự án 956) hoặc 3M80MBE tầm bắn tăng lên tới 240 km, tốc độ Mach 3, lắp đầu đạn nặng 300 kg (Dự án 956EM).
Hệ thống phòng không tầm trung Shtil của Sovremenny trang bị đạn tên lửa 9M38 có tầm bắn 25 km, phóng đi từ ray phóng đơn phía trước mũi tàu. Phiên bản nâng cấp còn được lắp hệ thống CIWS Kashtan thay cho ụ pháo AK-630.
Trên 2 tàu Dự án 956 được lắp 2 khẩu pháo nòng đôi AK-130 cỡ 130 mm (bố trí trước - sau), ở phiên bản nâng cấp Dự án 956EM chỉ còn một khẩu duy nhất phía trước.
Sovremenny có chiều dài 156 m; rộng 17,3 m; mớn nước 6,5 m; lượng giãn nước đầy tải lên tới 8.000 tấn. Tàu được trang bị 4 nồi hơi áp suất cao KVG-3 và động cơ turbine khí TV-12-4, cho tốc độ tối đa 32 hải lý/h, tầm hoạt động 22.500 km; thủy thủ đoàn 350 người.
Khinh hạm đa năng Type 054A
Type 054A (Jiangkai II) là khinh hạm đa năng thế hệ mới, giữ vai trò xương sống của Hải quân Trung Quốc trong giai đoạn đầu thế kỷ 21.
Thiết kế của Type 054A được cho là dựa trên khinh hạm La Fayette của Pháp, với nhiều bề mặt góc cạnh nhằm tối ưu hóa khả năng tàng hình. Hệ thống điện tử của tàu gồm các loại radar đậm chất Nga nhưng do Trung Quốc tự sản xuất trong nước như Fregat-MAE-5, Mineral-ME hay MR-90.
Hỏa lực của Type 054A khá mạnh và toàn diện gồm tên lửa chống hạm YJ-83 có tầm bắn 180 km, tên lửa phòng không phóng thẳng đứng HHQ-16 tầm bắn 35 km (sao chép 9M317 của Nga), ngư lôi chống ngầm hạng nhẹ Yu-7.
Ngoài ra tàu còn được trang bị pháo hạm bắn nhanh H/PJ-26 cỡ 76 mm và hệ thống CIWS Type 730. Sàn đáp và hangar phía đuôi tàu cho phép mang theo trực thăng chống ngầm Kamov Ka-28 hoặc Harbin Z-9C.
Type 054A có chiều dài 134 m; rộng 16 m; lượng giãn nước đầy tải 4.053 tấn. Hệ thống động lực kết hợp CODAD gồm 4 động cơ diesel SEMT Pielstick 16 PA6V-280 STC có tổng công suất 18.880 kW, cho tốc độ tối đa 30 hải lý/h, tầm hoạt động 6.000 km; thủy thủ đoàn gồm 165 người.
Khu trục hạm phòng không Type 052D
Type 052D (Luyang III) là khu trục hạm mang tên lửa hạng nặng của Hải quân Trung Quốc, nhiệm vụ chính của tàu là phòng không hạm đội, mặc dù nó cũng được trang bị tên lửa hành trình diệt hạm và đối đất tầm xa.
Type 052D có thiết kế gần như giống hệt "người anh" Type 052C, với thượng tầng lắp 4 mảng radar đa năng quay về 4 phía, tương tự như hệ thống tác chiến Aegis của Mỹ. Tuy nhiên radar của Type 052D đã được làm phẳng chứ không lồi và cong hình cung như người tiền nhiệm.
Vũ khí đáng chú ý nhất của tàu là 64 tên lửa phòng không tầm xa HHQ-9 có tầm bắn 200 km, tốc độ Mach 4,2, trần bay 30.000 m. Tên lửa sử dụng phương thức dẫn đường quán tính trong giai đoạn đầu và giữa, đến cuối hành trình thì chuyển sang dùng radar chủ động.
Hỏa lực chống hạm của Type 052D gồm 8 tên lửa tầm xa YJ-12 có tầm bắn 400 km, tốc độ Mach 2,5, giai đoạn cuối bay cách mặt biển 30 m, phương thức dẫn đường của YJ-12 tương tự như HHQ-9.
Ngoài ra, tàu còn được trang bị pháo hạm 130 mm H/PJ-38, tên lửa phòng không tầm ngắn HHQ-10 và hệ thống phòng thủ tầm cực gần H/PJ-12. Bệ phóng thẳng đứng của Type 052D có thể bắn cả tên lửa hành trình đối đất CJ-10 và tên lửa chống ngầm Y-8.
Type 052D có chiều dài 156 m; rộng 18 m; mớn nước 6,5 m; lượng giãn nước đầy tải 7.500 tấn. Hệ thống động lực kết hợp CODOG gồm 2 động cơ turbine khí QC-280 (28 MW) và 2 động cơ diesel MTU 20V 956TB92 (6 MW) cho tốc độ tối đa 30 hải lý/h; thủy thủ đoàn gồm 280 người.
Tàu sân bay Liêu Ninh
Tàu sân bay Liêu Ninh nguyên gốc là chiếc Varyag được Trung Quốc đã mua lại từ Ukraine vào năm 1998, khi đó chỉ có khung tàu mà không có động cơ, bánh lái và phần lớn các hệ thống vận hành khác. Năm 2002, con tàu được kéo về cảng Đại Liên để tiếp tục đóng cho đến khi hoàn thiện vào tháng 6/2011.
Do vốn là tàu Varyag nên Liêu Ninh có thể xem như thuộc lớp tàu sân bay Đô đốc Kuznetsov. Nó có chiều dài 304,5 m; rộng 37 m; mớn nước 11 m; lượng giãn nước đầy tải 58.500 tấn và có thể di chuyển với tốc độ 32 hải lý/h, tầm hoạt động 7.130 km hoặc 45 ngày.
Theo thiết kế, Liêu Ninh có thể mang 26 tiêm kích hạm J-15 (phiên bản sao chép Su-33) và 24 trực thăng các loại. Đường băng của tàu dùng kiểu nhảy cầu giúp máy bay cất cánh chứ không phải máy phóng hơi nước như tàu sân bay Mỹ.
Vũ khí còn lại của Liêu Ninh gồm hệ thống phòng thủ tầm cực gần Type 1030 và tên lửa phòng không tầm ngắn ổn định bằng thân quay FL-3000N (phiên bản sao chép RIM-116 Rolling Airframe của Mỹ).
Mặc dù Trung Quốc tuyên bố Liêu Ninh chỉ được sử dụng với mục đích huấn luyện nhưng không có gì đảm bảo nó sẽ không được huy động tham chiến lúc cần thiết. Khi đó, tàu sẽ giữ vai trò hạt nhân của hạm đội viễn chinh Trung Quốc.
Trung Quốc rất chú ý đến công tác thiết kế và hoàn thiện các phương tiện kiểm soát tình huống trên không.
Các đài radar đã lạc hậu copy từ các mẫu radar Xô Viết sản xuất từ những năm 50, được nhanh chóng thay thế bằng các đài radar mới.
Ăng ten của đài radar JY-27
Có lẽ trạm radar mới dải sóng mét lớn nhất là radar phát hiện từ xa hai tọa độ băng tần rộng - JY-27.
Theo tiết lộ của các nhà thiết kế, radar này có thể phát hiện từ rất xa các máy bay có độ phản xạ sóng radar thấp (cự ly phát hiện các mục tiêu trên không đến 500 km).
Radar Type 120
Radar phát hiện các mục tiêu bay thấpType 120 là kiểu radar cải tiến từ JY-29/LSS-1 2D có khả năng đồng thời bám 72 mục tiêu ở cự ly 200 km.
Trung Quốc đã triển khai 120 radar kiểu này, trong đó có cả các radar dùng trong các tổ hợp tên lửa Phòng không HQ-9, HQ-12 và HQ-16.
Radar ba tọa độ JYL-1 có cự ly phát hiện mục tiêu 320 km. Một số kiểu radar mới đã được trưng bày tại Triển lãm vũ trụ - hàng không Chu Hải tại China Airshow-2014.
Ngoài các đài radar mặt đất, Trung Quốc cũng tích cực nghiên cứu chế tạo các máy bay radar kiểm soát và cảnh báo sớm( AWACS).
Sở dĩ Trung Quốc phải làm như vậy là vì phần lớn các máy bay tiêm kích Trung Quốc được triển khai tại các căn cứ dọc bờ biển.
Chiều sâu bảo vệ của các tiêm kích trong trạng thái “trực chiến trên các sân bay” chỉ vào khoảng 150 đến 250 km trong điều kiện phát hiện được các mục tiêu ở cự ly 500 km.
Nếu tính rằng trong phần lớn các trường hợp radar phòng không phát hiện mục tiêu ở cự ly 250 - 300 km và so sánh con số trên với chiều sâu tấn công của các phương tiện tiến công đường không thì tiêm kích của Hải quân PLA không thể thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ Phòng không từ trạng thái “ trực chiến trên sân bay”.
Các máy bay AWACS tuần tiễu ven biển trên vùng biển quốc tế có thể làm tăng hơn cự ly phát hiện các mục tiêu trên không.
Giữa những năm 90,Trung Quốc đã từng tìm cách chế tạo máy bay AWACS với sự tham gia của các chuyên gia nước ngoài.
Sau các cuộc đàm phán kéo dài với Nga và Israel, Trung Quốc đã ký được hợp đồng cùng thiết kế, chế tạo và sau đó cung cấp cho Trung Quốc các tổ hợp hàng không AWACS.
Theo hợp đồng thì Tổ hợp hàng không Nga mang tên G.M. Beriev chế tạo máy bay theo mẫu A-50 để lắp đặt các tổ hợp vô tuyến kỹ thuật do Israel sản xuất với radar EL/M-205 “PHALCON”.
Thành phần chính của tổ hợp là radar xung dopler đa năng EL/M205 do Hãng “ Elta” Israel thiết kế và sản xuất.
Nhưng những kế hoạch trên không thực hiện được do sức ép rất mạnh từ Mỹ. Mùa hè năm 2000, Israel buộc phải dừng việc thực hiện hợp đồng và sau đó chính thức thông báo cho chính quyền Trung Quốc về việc không tiếp tục tham gia vào dự án trên .
Sau khi Israel rút ra khỏi chương trình, giới lãnh đạo Trung Quốc quyết định tự mình tiếp tục thực hiện dự án và trang bị cho máy bay đã cải hoán mua từ Nga tổ hợp ăng ten mạng pha, phương tiện liên lạc và truyền dữ liệu tự sản xuất.
Do Trung Quốc không có các phương tiện mang AWACS thích hợp, nước này quyết định sử dụng một số máy bay vận tải IL-76MD mua được từ những năm 90 làm máy bay AWACS.
Máy bay AWACS Trung Quốc KJ-2000
Vào cuối năm 2007, 4 chiếc máy bay AWACS KJ-2000 được chính thức đưa vào trang bị.
Không có các dữ liệu đầy đủ về tính năng kỹ chiến thuật của tổ hợp này trên các phương tiện thông tin công khai. Chỉ biết rằng, tổ lái KJ-2000 gồm 5 người và 10 nhân viên kỹ thuật.
Máy bay có thể thực hiện các chuyến bay tuần tiễu ở độ cao 5 đến 10 km, cự ly bay tối đa là 5.000 km, thời gian bay là 7h40 phút.
Việc đưa KJ-2000 vào trang bị đã làm tăng đáng kể khả năng phát hiện các mục tiêu trên không, bao gồm cả các mục tiêu bay thấp và tàng hình.
Nhưng một đội máy bay AWACS gồm 5 chiếc (kể cả chiếc nguyên mẫu) KJ-2000 rõ ràng là không đủ đối với TQ. Chính vì vậy mà nước này bắt đầu thiết kế các “radar bay” từ các máy bay vận tải quân sự Y-8 F-200.
Radar của Y-8 F-200 được trang bị radar giống radar Ericsson Erieye AESA của Thụy Điển, có cự ly phát hiện mục tiêu từ 300 - 400 km.
Máy bay AWACS TQ KJ-200
Chiếc KJ-200 trong lô đầu tiên cất cánh ngày 14/1/2005. Theo đánh giá của các chuyên gia nước ngoài, hiện nay Trung Quốc có không ít hơn 6 chiếc KJ-200.
Trung Quốc hiện vẫn đang tiếp tục chế tạo các máy bay AWACS biến thể mới có các tính năng của radar hoàn thiện hơn.
Công nghiệp Trung Quốc trong lĩnh vực chế tạo radar hàng không đã có bước đột phá từ: các radar quét cơ khí sang sử dụng các hệ thống ăng ten, mạng pha chủ động.
Máy bay AWACS KJ-500
Giữa năm 2014 có thông tin là Trung Quốc đã đưa vào trang bị phiên bản máy bay AWACS hạng trung mới với ký hiệu KJ-500 cải hoán từ máy bay vận tải Y-8F-400. Khác với phiên bản KJ-200, máy bay mới có ăng ten hình tròn trên trụ.
Hiện nay Trung Quốc có khoảng 15 máy bay AWACS, mỗi năm cho xuất xưởng thêm từ 2 - 3 chiếc
Trung Quốc đặc biệt quan tâm đến việc hoàn thiện các máy bay tiêm kích hiện đại, các phương tiện phòng không mặt đất, các trạm radar và các phương tiện điều khiển tự động hóa.
Theo một tài liệu Bộ quốc phòng Mỹ mới công bố thì hiện nay Trung Quốc đang xây dựng hệ thống Phòng không quốc gia tích hợp và sẽ hoàn thành hệ thống này trước năm 2020.
Thành tựu lớn trong công nghiệp vô tuyến điện tử của Trung Quốc là có khả năng tự thiết kế và sản xuất gần như tất cả các kiểu radar, phương tiện điều khiển và dẫn đường.
Trong các hệ thống xử ý dữ liệu của các tổ hợp Phòng không và của máy bay tiêm kích nước này tự sản xuất, các kỹ sư Trung Quốc sử dụng các computer và lập trình được thiết kế và chế tạo tại TQ.
Như vậy làm tăng độ bảo mật thông tin và đảm bảo khả năng làm việc của các thiết bị trong “ giai đoạn đặc biệt”.
Sau thời kỳ đối đầu chính trị - tư tưởng kéo dài và những cuộc xung đột vũ trang cục bộ, Liên Xô và Trung Quốc bắt đầu bình thường hóa quan hệ (dưới thời Gorbachev).
Dự án hợp tác quân sự - kỹ thuật lớn đầu tiên là Liên Xô cung cấp choTrung Quốc các máy bay tiêm kích Su-27SK .
Ngày 27/6/1992, 8 chiếc Su-27SK và 4 Su-27UBK (tác chiến - huấn luyện) được chuyển giao cho PLA. Đến tháng 11/1992, có thêm 12 chiếc nữa được cung cấp cho TQ.
Su-27SK trên sân bay TQ
Ngoài việc cung cấp trực tiếp cho TQ các máy bay thành phẩm, LX cũng ký với TQ thỏa thuận về việc chuyển giao tài liệu kỹ thuật và hỗ trợ sản xuất theo giấy phép.
Năm 1996, sau các cuộc đàm phán kéo dài Công ty “Sukhoi” và “Shenyang Aircraft Corporation” (SAC) ký một hợp đồng cùng sản xuất 200 chiếc Su-27SK (tên gọi theo TQ là J-11) trị giá 2,5 tỷ đô la.
Theo hợp đồng J-11 sẽ được lắp ráp tại TP Thẩm Dương từ các linh kiện đồng bộ Nga .
Chiếc J-11 lắp ráp trong khuôn khổ hợp đồng cất cánh lần đầu tiên vào năm 1998. Những tiêm kích J-11 đầu tiên được đưa vào trang bị cho Sư đoàn số 2 không quân PLA và được khai thác cùng với Su-27SK nguyên bản.
Ảnh Google Earth: Sân đỗ máy bay tại sân bay nhà máy Thẩm Dương
Tổng cộng đã có 105 chiếc J-11 được lắp ráp tại TQ. Phần lớn trong số đó được trang bị các thiết bị điện tử TQ tự sản xuất.
Sau khi lắp ráp được 105 chiếc, TQ từ chối tiếp tục sản xuất 95 chiếc còn lại với lý do “chất lượng tác chiến thấp” của các máy bay tiêm kích Xô Viết.
Tháng 12/2003, nước này bắt đầu giai đoạn hai của “ Dự án 11” - chiếc tiêm kích J-11B đầu tiên do TQ “tự lực tự cường” sản xuất theo mẫu Su-27SK cất cánh bay thử nghiệm.
Do các đơn vị không quân PLA được trang bị các máy bay Su-27SK và J-11B nên J-6 và các biến thể máy bay đánh chặn J-8 trước đó dần được đưa ra khỏi biên chế.
Riêng J-7 vẫn tiếp tục được khai thác, nhưng chủ yếu dùng cho huấn luyện và trực chiến ở những khu vực có tầm quan trọng thứ yếu.
Tiêm kích J-11 TQ bay trên khu vực núi Hymalaia cao nhất thế giới (8.848 m)
Để không bị phụ thuộc vào công nghệ Nga, các kỹ sư TQ thiết kế một loạt các phần tử và các hệ thống để các lắp ráp các máy bay tiêm kích không cần phụ tùng và các chi tiết của Nga và để có thể sử dụng vũ khí hàng không do TQ tự thiết kế.
Máy bay tiêm kích thế hệ 5 (trong tương lai) TQ J-20
Những công nghệ và tài liệu kỹ thuật của Liên Xô và Nga mà TQ có được đã giúp công nghiệp hàng không nước này tiến hành một bước đột phá và bước vào một giai đoạn phát triển mới. Trong một thời gian ngắn, TQ đã thu hẹp sự tụt hậu hơn 30 năm trong lĩnh vực này.
Hiện nay, tuy còn gặp nhiều khó khăn trong chế tạo động cơ máy bay (chưa đạt độ tin cậy cần thiết), TQ đã có khả năng chế tạo tất cả các kiểu máy bay chiến đấu, trong đó có cả tiêm kích thế hệ năm.
Cũng cần phải bổ sung thêm là bên cạnh sản xuất các máy bay tiêm kích mới, tiến hành các nghiên cứu và thiết kế trong lĩnh vực hàng không, TQ còn chi một khoản kinh phí rất lớn để phát triển hệ thống các sân bay.
TQ đã xây dựng trên lãnh thổ của mình một khối lượng lớn các đường băng cất hạ cánh nền cứng (bê tông) để trong trường hợp cần thiết có thể tiếp nhận và khai thác tất cả các kiểu máy bay hiện có trong trang bị .
Mạng lưới các sân bay TQ
Hiện nay có khoảng 30% các sân bay TQ hoặc là không được khai thác, hoặc chỉ khai thác với công suất tối thiểu. Nhưng tất cả các sân bay thường xuyên được duy tu bảo dưỡng để có thể được sử dụng vào bất cứ lúc nào.
Với một số lượng lớn các đường băng cất hạ cánh dự bị và một cơ sở hạ tầng sân bay như vậy, trong trường hợp cần thiết, TQ có thể phân tán máy bay chiến đấu, đưa chúng ra khỏi khu vực bị tấn công.
Nếu tính về số lượng các sân bay có thể hoạt động và các đường băng nền cứng thì TQ vượt xa Nga.
Cùng với các máy bay chiến đấu hiện đại, đến đầu những năm 90, PLA cần gấp những tổ hợp phòng không để có thể thay thế các tổ hợp tên lửa phòng không S-75 lúc này đã lạc hậu .
Các cuộc đàm phán về mua các tổ hợp phòng không Xô Viết (Nga) được tiến hành từ năm 1990. Sau khi Nga cho giới thiệu tổ hợp S-300P tại triển lãm phòng không Matxcova 1992, thì đến năm 1993, các tổ hợp trên đã được cung cấp cho TQ.
Nước này đã đặt hàng 4 tiểu đoàn (cơ số đủ) S-300PMU trị giá 220 triệu đô la. Trước khi cung cấp S-300 PMU cho TQ, hàng chục sỹ quan PLA và các nhân viên kỹ thuật dân sự đã được huấn luyện sử dụng chúng tại Nga.
Trong năm 1993, Nga đã cung cấp cho TQ 32 tổ hợp phóng xe kéo 5P85T cùng xe kéo KrAz-265.
Ngoài ra Nga còn cung cấp thêm 120 quả tên lửa để huấn luyện và bắn tập. Tổ hợp này có thể tiêu diệt 6 mục tiêu cùng lúc ở cự ly đến 75 km, mỗi mục tiêu cần 2 tên lửa .
Tổ hợp tên lửa phòng không S-300PMU đã gây ấn tượng mạnh cho các chuyên gia TQ .Các tiểu đoàn tên lửa S-300 được bố trí để bảo vệ các mục tiêu quân sự, hành chính và công nghiệp quan trọng.
Năm 1994, hai bên lại ký tiếp hợp đồng mua 8 tiểu đoàn (cơ số) tổ hợp S-300 đã hiện đại hóa là S-300PMU1 trị giá 400 triệu đô la. Theo hợp đồng, Nga cung cấp 32 bệ phóng 5P85SE/DE trên xe MAZ-543M và 196 tên lửa.
Tên lửa đã hiện đại hóa có hệ thống radar dẫn đường bán chủ động với tầm bắn lên tới 150 km. Một nửa giá trị hợp đồng được thanh toán theo phương thức “hàng đổi hàng” (lợi dụng khó khăn của Nga lúc đó), nửa còn lại bằng ngoại tệ.
Ảnh Google Earth: các trận địa tên lửa S-300PМU ở ngoại ô Bắc Kinh
Năm 2001, hai bên ký tiếp hợp đồng bổ sung trị giá 400 triệu đô la về việc cung cấp thêm 8 tiểu đoàn S-300PMU-1 với 32 tổ hợp phóng và 198 tên lửa 48N6E. Các tổ hợp này được bố trí tại khu vực eo biển Đài Loan và quanh Bắc Kinh.
Năm 2003, TQ đề xuất mua tổ hợp tên lửa phòng không đã hiện đại hóa S-300PMU2 (đề nghị bạn đọc lưu ý đến các con số sau cùng) “favorit” do Nga giới thiệu tại hội chợ vũ khí quốc tế năm 2001.
Đơn đặt hàng gồm 64 tổ hợp phóng 5P85SE/De2 và 256 tên lửa phòng không có điều khiển 48NE6E2.
Các tiểu đoàn đầu tiên đã được chuyển giao cho TQ năm 2007. Tổ hợp đã hiện đại hóa có thể tiêu diệt cùng lúc 6 mục tiêu trên không ở cự ly 200 km và độ cao đến 27 km.
Lần đầu tiên trong lịch sử, với S-300PMU2 , lực lượng phòng không TQ đã có khả năng đánh chặn các tên lửa đạn đạo ở cự ly đến 40 km.
Theo các nguồn tin công khai của Nga, tổng cộng TQ đã mua 4 tiểu đoàn S-300PMU, 8 tiểu đoàn S-300PMU1 và 12 tiểu đoàn S-300PMU2.
Cơ số của mỗi tiểu đoàn có 6 bệ phóng. Như vậy, đến thời điểm hiện tại (cuối năm 2015) PLA có 24 tiểu đoàn S-300 PMU/PMU1/PMU2 với 144 bệ phóng.
Sau khi được hướng dẫn khai thác sử dụng S-300, TQ muốn sản xuất theo giấy phép các tổ hợp này trên lãnh thổ TQ.
Tuy nhiên, giới lãnh đạo Nga do đã quá thấm “bài học kinh nghiệm sâu sắc” với Su-27 và sợ rò rỉ công nghệ nên từ chối thẳng thừng. Vì vậy, nước này phải tự thiết kế các tổ hợp tên lửa phòng không mới.
Tuy thế, dễ nhận thấy là tổ hợp tên lửa phòng không HQ-9 (HongQi-9) rõ ràng là bản copy không đầy đủ từ S-300P của Nga (các đặc điểm kết cấu và giải pháp kỹ thuật). Nhưng cũng không thể coi HQ-9 là bản sao hoàn toàn S-300P của Nga.
Tổ hợp phóng HQ-9
Tổ hợp tên lửa phòng không HQ-9 sử dụng tên lửa có kích thước khác với tên lửa S-300, HQ-9 sử dụng radar với mạng pha CJ-202. Tổ hợp phóng trên xe địa hình do TQ tự sản xuất (ảnh) .
Tổ hợp TQ này có tầm bắn tối đa gần 125 km, độ cao tiêu diệt mục tiêu tối đa 18.000 m, tối thiểu 25 m, cự ly tiêu diệt các mục tiêu đạn đạo từ 7 đến 25 km ở độ cao từ 2.000 đến 15.000 m.
(Xin bạn đọc so sánh các số liệu này với các số liệu mà các phương tiện thông tin đại chúng đã đưa).
Mỗi lữ đoàn có 6 tiểu đoàn, các tiểu đoàn có xe chỉ huy riêng và radar điều khiển hỏa lực. Một tiểu đoàn có 8 bệ phóng, số lượng tên lửa sẵn sàng phóng là 32 quả.
Phiên bản xuất khẩu của HQ-9 là FD-2000 đã thắng thầu trong một cuộc đấu thầu của Thổ Nhĩ Kỳ, loại “Patriot” của Mỹ, “S-400” của Nga và “Aster” của Châu Âu. Tuy nhiên, Mỹ gây sức ép và kết quả đấu thầu bị hủy.
Hiện nay, TQ đang sản xuất phiên bản cải tiến với ký hiệu HQ-9A. HQ- 9A có hiệu quả tác chiến và xác xuất tiêu diệt mục tiêu lớn hơn, đặc biệt trong phòng chống tên lửa do thiết bị điện tử và đảm bảo lập trình được cải tiến đáng kể.
Hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng có tin là TQ sản xuất và đưa vào trang bị tổ hợp tên lửa phòng không HQ-15 - được cho là bản sao của S-300PMU-1. Nhưng không có bằng chứng rõ ràng khẳng định thông tin này.
Từ năm 1991, TQ đã cho giới thiệu tại Le Bourget (Pháp) tổ hợp tên lửa tầm trung HQ-12. Công tác thiết kế tổ hợp này bắt đầu từ đầu những năm 80 để thay thế HQ-2 đã lạc hậu và hết tuổi thọ .
Bệ phóng tự hành tổ hợp tên lửa phòng không tầm trung HQ-12
Tuy nhiên , công tác thiết kế bị kéo dài. Mãi đến năm 2009 tổ hợp mới được ra mắt công khai một số đại đội HQ-12 tham gia duyệt binh kỷ niệm 60 năm thành lập TQ. Hiện nay, TQ có khoảng trên dưới 10 tiểu đoàn HQ-12.
Có lẽ thành công hơn cả là tổ hợp tên lửa phòng không tầm trung TQ - HQ-16 . Đấy là một tổ hợp “tích hợp” các giải pháp kỹ thuật tiên tiến “cóp” được từ S-300P và Buk-M2 của Nga. Nhưng HQ-16 khác “Buk” ở chỗ là HQ-16 phóng thẳng đứng.
Tổ hợp tên lửa phòng không tầm trung HQ-16
HQ-16 được trang bị các tên lửa phòng không trọng lượng 328 kg , cự ly bắn 40 km. Bệ phóng tự hành có 4 đến 6 tên lửa trong các ống phóng.
Radar của tổ hợp có thể phát hiện các mục tiêu trên không ở cự ly 150 km. Các thành phần của tổ hợp bố trí trên xe địa hình TQ sản xuất.
Hiện nay, một số tiểu đoàn phòng không trang bị tổ hợp này được bố trí trên các trận địa ở khu vực phía Tây - Nam TQ.
Ảnh Google Earth: các trận địa HQ-16 tại khu vực Thành Đô
Tổ hợp này có thể tiêu diệt các mục tiêu là máy bay của không quân lục quân (máy bay lên thẳng, máy bay chiến thuật và chiến lược, máy bay lên thẳng hỗ trợ hỏa lực, tên lửa có cánh và các máy bay không người lái điều khiển từ xa.
Đảm bảo đánh trả có hiệu qủa các đợt tấn công đường không ồ ạt trong điều kiện bị chế áp điện tử mạnh, có thể thực hiện nhiệm vụ tác chiến trong các điều kiện thời tiết phức tạp.
Hiện trong trang bị của Bộ đội tên lửa phòng không PLA TQ có khoảng 110 - 120 tổ hợp tên lửa phòng không (tiểu đoàn) với gần 700 tổ hợp (bệ) phóng. Theo chỉ số này, TQ chỉ kém Nga (gần1.500 tổ hợp phóng). Tỷ lệ các tổ hợp hiện đại ngày càng tăng.
Theo các phương tiện thông tin đại chúng, tại triển lãm vũ trụ - hàng không Chu Hải Nga và TQ đã đạt được thỏa thuận nguyên tắc về việc Nga bán cho TQ các tổ hợp tên lửa phòng không mới nhất S-400.
Hiện các bên đang đàm phán khả năng cung cấp cho TQ từ 2 đến 4 tiểu đoàn S-400, mỗi tiểu đoàn có 8 tổ hợp phóng. TQ đòi cung cấp toàn bộ thông tin về tính năng kỹ - chiến thuật của tổ hợp này.
Nếu có S-400, TQ có thể kiểm soát khu vực không phận không chỉ trên lãnh thổ của mình, mà còn cả Đài Loan và Quần đảo Sensaku của Nhật Bản .
Ảnh Google Earth: Sơ đồ bố trí các tổ hợp tên lửa phòng không TQ (hình vuông và tam giác và các đài radar (hình quả trám màu xanh) dọc bờ biển TQ
Phần lớn các tổ hợp tên lửa phòng không tầm xa và tầm trung TQ được bố trí dọc bờ biển. Chính tại các khu vực này tập trung các nhà máy lớn tạo ra 70% GDP của TQ.